–“PHẬT ra đời có thẩm quyền độc lập chứng minh vũ trụ. BỒ TÁT có quyền chứng minh chúng sanh cấp bậc tu chứng.″

26. LỤC-BA-LA MẬT-ĐA NHIẾP ĐỘ LỤC-ĐẠO

16 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 13147)
26. LỤC-BA-LA MẬT-ĐA NHIẾP ĐỘ LỤC-ĐẠO
Chúng tôi trong BAN HỘ ĐẠO, cùng Tứ Chúng PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM Trung Ương Hội Thượng. Được ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ cho phép trích trong BẢO PHẨM XUẤT THẾ CHƠN KINH về phẩm LỤC-BA-LA MẬT-ĐA nhiếp thâu LỤC ĐẠO. Để phổ truyền từ các Tỉnh-Thị-Hội, cho đến Quận Hội, Hội Sở, Chi Hội, Tứ Chúng đồng Phụng Hành.

LỤC-BA-LA MẬT-ĐA nhiếp độ LỤC ĐẠO như sau:

– Vì Tự Tại ĐẠI BI mới nói lên Pháp Tối Diệu này của Chư Bồ Tát thường phụng hành để nhiếp độ Lục Đạo, cứu độ Chúng Sanh trong Ba Cõi Sáu Đường làm phẩm Công Đức Cúng Dường Chư Phật. Bậc Tu Hành luôn luôn đang nằm nơi Lục Đạo, không chịu tu trì phụng hành Bố-Thí Trì-Giới Tinh-Tấn Nhẫn-Nhục Trí-Tuệ Thiền-Định thời chẳng bao giờ tỏ thông các Pháp, không dùng Công Đức nhiếp độ Lục Đạo, thì không bao giờ thoát khỏi Ba Cõi Sáu Đường mà Sở Đắc Thật Chứng.

Bồ Tát Hóa Độ Giới sinh trong Lục Đạo Pháp Giới. Bồ Tát thật biết sự lầm lẫn chia ra nhiều Pháp Giới trùng trùng Pháp Giới, nhưng do căn khởi trở về khởi căn mà thụ thai sanh trưởng Lục Đạo làm nơi an trụ Chúng Sanh, khi tập nhiễm Thọ Chấp, hoặc lúc chưa tập nhiễm không thọ chấp vẫn phải vướng mắc nơi Lục Đạo đã có vướng mắc, vương mang thì nên thi hành hóa độ mới rốt ráo, bằng chưa thi hành hóa độ chưa bao giờ rốt được. Vì sao? Vì trót đạp phải gai, khi biết mình đạp gai phải nên lấy gai để giải gai. Lúc trót lầm huyển phải dụng huyển để tu, huyển hết đương nhiên Giác Ngộ, chớ không đi vào huyển không bao giờ thâm nhập Giác Ngộ đặng.

● BỐ THÍ NHIẾP ĐỘ ĐỊA NGỤC

Bậc Tín Tâm cầu đạo thường hướng thượng tu theo Bồ Tát Hạnh vẫn dùng phẩm Công Đức cấu tạo Công Năng thọ trì Bảo Pháp nên chi lập Bố Thí Nguyện để nhiếp độ Địa Ngục, thường Hành Thâm trên con đường khổ mới phát lời Nguyện rằng: Tôi chịu nhận lấy cái khổ để cho Chúng sanh được thoát khỏi Địa Ngục, nhờ lời phát nguyện ấy mà bậc tu hành mới thoát khỏi Địa Ngục nhiếp độ Địa Ngục.

Chư Bồ Tát nhận lãnh phẩm Bố Thí giúp đỡ cho Chúng Sanh, cúng dường Chư Phật. Hằng đem bộ óc tìm nơi mê lầm đen tối của Chúng Sanh đặng giải mê phá chấp, Chúng sanh qua đặng cơn đen tối mê lầm, tai của Chúng Sanh biết nghe Pháp, óc của Chúng Sanh được viên thông chỉ nương nhờ pháp Bố Thí của Bồ Tát mà thành tựu.

Bồ Tát thật biết pháp Bố Thí là một Bảo Phẩm thoát trần lao Địa Ngục, nên Bồ Tát nguyện đem thân mạng cứu giúp cho Chúng Sanh bằng cách mở Hội Trường chỉ dạy Đạo Đức tu học, ban cho thuốc men trong lúc bệnh hoạn nguy kịch, Bồ Tát tự tay cứu chữa rất nhiều căn bệnh từ thân mạng đến Trí Tuệ mê lầm thảy đều chữa trị không chối cãi, miễn Chúng Sanh vui Bồ Tát được vui.

Bồ Tát lại đem tài lực cứu độ bằng cách thành lập Đạo Hạnh, chỉ dạy Bố Thí trai đàn để vãng sanh Địa Ngục, dụng tài chánh xây chùa, dựng tháp Đa Bảo, dùng lễ bái cúng lạy chiêng trống tràng phang Bảo Cái quyết lòng trên cúng dường Chư Phật, dưới Bố Thí Chúng Sanh để nương nhờ phẩm Bố Thí mà cứu độ Chúng Sanh thoát nơi cực khổ không ngừng của Địa Ngục.

Bồ Tát đã thi hành phẩm Công Đức Bố Thí, Bồ Tát thường bảo trì Bố Thí, vì bảo trì nên Bồ Tát không kể ơn nghĩa trong phẩm Bố Thí, nhờ không kể ơn nên Công Đức Bố Thí được trọn Ba La Mật Đa hoàn mỹ.

● TRÌ GIỚI NHIẾP ĐỘ NGẠ QUỶ

Khi biết được Bố Thí là nhiếp độ Địa Ngục, liền tự kiểm kê lấy công năng tu tập nơi mình giới hạn Đức Tánh nơi nào còn chênh lệch thiếu sót, đúng đắn với một Chân Phật Tử hay chưa đúng đắn, lúc bấy giờ mới tùy khả năng Công Đức bảo trì tư cách cùng ngôn hạnh đặng khỏi vương vào Ngạ Quỷ. Bậc này thật biết, Ngạ Quỷ hay buông lung, ngôn hạnh bừa bãi, tánh nết không chừng, do không chừng như thế nên chi sự tiêu xài quá lố, đến lúc keo kiệt thì quá kể, lại ưa xu nịnh điêu ngoa để tìm lối ăn tiền bạc rượu chè của kẻ khác, lại thường vui thích nơi ăn chơi bài bạc làm nơi sở thích chính mình, khi chẳng thỏa mãn, hận thù sân si, chém giết phải sa nơi Địa Ngục.

Do thật biết nên mới dùng pháp Trì Giới để nhiếp độ Ngạ Quỷ, vì Trì Giới nên mới sửa sang Đức Tánh quân bình, nói năng từ tốn, tiêu xài vừa giới độ của mình, không bừa bãi, cũng không keo kiệt, lại thường dùng trang nghiêm đúng đắn giúp đỡ cho tất cả mọi người không kể lể chẳng dục lợi riêng nơi mình mà làm thiệt hại kẻ khác, đó chính là Trì Giới Ba La Mật Đa.

● TINH TẤN NHIẾP ĐỘ SÚC SANH

Súc Sanh chính là một Pháp Giới, nhẹ nhàng đưa tất cả từng lớp Dục Vọng vào nơi Sanh Tử. Súc Sanh có một sức mạnh vô biên, nó là một pháp Ái Khả đứng nhất, nó đưa đến cho Chúng Sanh mê man trong vòng Dục Vọng mơ ước đòi hỏi theo nó, nó lại tạo cho Chúng Sanh đi nơi Ái Dục Ái Nịch không ngừng, nó cảm hóa Chúng Sanh phải dùng cái sống nơi nó mà gợi lòng tham muốn nơi SẮC, THINH, HƯƠNG, VỊ để cầu van cho thỏa tình Dục Vọng, thèm khát xin xỏ theo con đường Sanh–Diệt, Diệt–Sanh không ngừng nghỉ.

Từ một nơi SẮC-PHÁP HOA-MỸ, nó gợi cho luyến ái, khi đã luyến ái đương nhiên sanh Tình Ái, từ nơi tình ái không rời sinh ra Ái Nịch, nơi ái nịch thỏa thích dục vọng sinh ra Ái Dục. Khi đã ái dục liền tạo thành Danh Vọng thèm khát mong chờ theo Danh Vọng đuổi bắt, lại còn mong cầu nơi danh vọng có đầy đủ Hương Vị Hạnh Phúc, lúc có hương vị liền mong mỏi Địa Vị, trong vòng quanh quẩn chỉ có Sắc-Thinh-Hương-Vị mà phải lâm vào nơi Xúc Pháp.

Khi bị thất bại về Địa Vị liền sinh lòng buồn khổ, thường hay oán đời sa vào Địa Ngục. Lúc Hương Vị mất thể diện thì Danh Vọng phải mất Tâm sanh buồn chán, sống trong vòng phiền não sa vào Địa Ngục. Khi thất bại trên con đường Tài Chánh, ái nịch, ái dục bị thất vọng, khổ sở than phiền sa vào Địa Ngục. Lúc không thỏa mản nhu cầu, Danh Vọng tiêu hao, tiền bạc không còn, đương nhiên Tình Ái mất hẳn, bị phụ bạc sinh ưu phiền khổ sở, than khóc không ngừng sa vào Địa Ngục.

Bậc tu pháp Tinh Tấn không ngừng nghỉ để nhiếp độ các Dục Vọng mơ ước, lìa các Danh Giả Hương Vị, mục đích hàng phục, điều ngự Tâm để khỏi sa vào Súc Sanh Giới. Càng Tinh Tấn bao nhiêu thì còn Công Đức bấy nhiêu, càng Công Đức bao nhiêu lại tạo Công Năng đầy đủ để lướt qua các nơi Tham Vọng ảo tưởng của Súc Sanh Giới. Đó chính là Bậc biết nhiếp độ Súc Sanh. Còn bậc chưa được tỏ rõ, chỉ hiểu biết có một khía cạnh nào thì bậc này chỉ biết Dâm Dục là Súc Sanh, khi tu mong thoát khỏi Súc Sanh bằng cách ly dục mà trở thành chưa trọn Súc Sanh Giới vì sao? Vì Ly Dâm Dục, tu nơi Dục Vọng, tu trong Dục Vọng tham muốn mong cầu trở thành Tiên Đạo. Duy nhất chỉ có SẮC - THINH - HƯƠNG - VỊ mà không nhiễm mới qua nổi, bằng nhiễm thì đương nhiên phải bị, đó chính là yếu tố trong Ba La Mật Đa Nhiếp Độ vậy.

● NHẪN
NHỤC NHIẾP ĐỘ A–TU–LA.

Pháp Giới A-Tu-La là một pháp Nóng Nảy thường tạo Vô Minh, thường tồi phá Phẩm Hạnh, thường làm đổ vỡ phẩm Công Đức, do lẽ ấy bậc A La Hán nóng nảy không khác nào bưng Ngũ Độc để uống. A Tu La lại thường tạo nên Nghiệp, tạo nên sự tranh giành gây gỗ, vô tình làm thành đường dây Sanh-Tử Luân-Hồi vô tận.

A Tu La pháp giới có hai Chánh Báo cùng chịu báo.

– Lối thứ nhất, bậc gieo trồng Đức Hạnh, Bố Thí Thân Tâm quảng đại, cứu giúp cho tất cả mọi trường hợp ngặt nghèo, không kể lể miễn sao tạo được Phước Điền, nên chi từ trên đến kẻ dưới thảy đều quý mến. Nhưng vì Nghiệp Chủng A Tu La chưa dùng Nhẫn Nhục để Nhiếp Độ do lẽ ấy mà hơi trái với thâm tâm liền nổi nóng, la hét tạo thành vô minh chủng nghiệp, sau khi Chánh Báo đặng mức Tiên Thần, tức là vị Thần ở cõi Thiên. Còn một bậc nữa vẫn dụng Đức Hạnh bố thí, thân tâm quảng đại, cứu giúp kẻ nghèo khó, nhưng lập Phước Đức nhỏ nhen không bằng bậc trên đã nói, cũng chỉ vì Pháp Giới A Tu La dằn lòng chẳng đặng, vẫn được Chánh Báo Thần Hoàng hay Thổ Địa.

– Lối thứ hai, kẻ này thường dùng cá tánh bảo thủ, gặp trường hợp trái ý liền sân hận, thù hằn, nóng nảy, chưởi bới, hăm dọa, đâm chém, lấy hung bạo để làm mức sống, lấy uy quyền dọa nạt kẻ hiền lành, lấy địa vị để chiếm đoạt gia tài hay tiền bạc, kẻ ấy thường cấu tạo Vô Minh, nhưng thật chẳng biết mình đang uống phải Ngũ Độc A Tu La Pháp Giới, ngỡ mình là anh hùng can đảm. Đến lúc mạng Căn hết sanh về A Tu La Quỷ. Còn nhẹ hơn kẻ nói trên, có một lương tâm suy nghĩ biết hối cải thì được sanh vào Thần Quỷ A Tu La. Bọn Quỷ A Tu La là một cảnh giới tắm bằng lửa, uống bằng lửa, sống trong lửa, còn Thần Quỷ A Tu La thì thường ở nơi cây cao bóng mát, hay bắt bớ để kiếm ăn bằng cúng lễ các Miếu ngã ba hay bên sườn núi.

Pháp Hạnh Nhẫn Nhục mới có thể đối trị nhiếp độ A Tu La thôi, ngoài ra không có Pháp nào đối trị để nhiếp độ đặng, bởi như thế nên chi Chư Bồ Tát phải dùng, Chư Phật đã dùng, hôm nay bậc Tu đang dùng Nhẫn Nhục nhiếp độ tánh nóng nảy của Chủng Tánh A Tu La, cốt dứt nghiệp quả của quá khứ, hiện tại thề nguyện nhiếp độ đoạn.

Bậc tu Pháp Hạnh Nhẫn Nhục thật biết pháp Nhẫn Nhục cao quý vô giá, vì sao? Vì dùng Nhẫn Nhục vừa nhiếp độ A Tu La lại vừa nhiếp Tâm đang đứng trước kẻ ngạo mạn nóng nảy họ đã lầm lẫn nung đúc A Tu La chạy vòng nơi Nhân Quả Luân Hồi.

Bậc nhiếp độ rõ biết Chủng Tánh A Tu La là một chủng tánh gây tạo Vô Minh nghiệp quả trở thành Nóng Nảy thiêu đốt Phúc Quả, thiêu đốt Thiện Căn, tồi phá Trí Tuệ, dung dưỡng Bản Ngã, nuôi nấng Tự Ngã càng ngày càng thêm Thọ Nghiệp. Hôm nay dụng Nhẫn Nhục nhiếp độ nơi mình, cùng giúp cho kẻ gần mình được sự nhiếp độ tránh khỏi A Tu La, phát Bồ Đề Tâm Nguyện.

Bậc tu Pháp Hạnh Nhẫn Nhục nhiếp độ A Tu La tỏ rõ, khi kẻ đang thọ nghiệp chủng tánh A Tu La liền chưa có Phật Tánh, nên chi nóng nảy chém giết sa nơi Địa Ngục, đến lúc từ một NHẪN biết hối cải ở nơi Địa Ngục Nhẫn Nhục đương nhiên Phật Tánh lộ diện mà thoát khỏi Địa Ngục. Do thật biết A Tu La Chủng Tánh làm cho Phật Tánh không thể nào lộ diện nguy hại như thế nên mới Nhẫn Nhục để nhiếp độ, khi đã nhiếp độ đặng A Tu La thì Thân Tâm Thanh Tịnh, Sở Đắc Bình Đẳng Tánh Trí đồng với Diệu Quang Sát Trí thoát khỏi A Tu La pháp giới. Bằng chưa Nhẫn Nhục nhiếp độ thì dù cho có Sở Đắc Chân Lý thành Phật chăng cũng là Phật Thể Hiện Hóa Độ A Tu La thôi.

● TRÍ TUỆ NHIẾP ĐỘ NHÂN

Trong Lục Đạo không có nơi nào thường chấp cho bằng Nhân Đạo, do thường chấp như thế Tâm phân biệt theo ý thức. Khi Nhân Sanh phân tách từng ý thức để rõ biết thì cái biết kia nó đã nằm nơi Ý Thức Hệ, ý thức hệ chính là một hệ thống Pháp Giới, do lẽ ấy nên chi học hỏi từng hệ thống ý thức bao nhiêu lại càng cố thủ để thọ chấp bấy nhiêu, càng học rộng trở thành bậc Trí Thức bao nhiêu lại càng bị đóng nơi khuôn thường chấp bấy nhiêu. Bậc Trí Thức phần nhiều tu tập khảo cứu nghiên cứu bao nhiêu thời nhiễm nơi Trí Thức pháp giới bị biết, rất hiếm bậc Tự Biết có Trí Tuệ thanh thoát, do đó nên mờ tối đâm ra mê tín, bởi lầm mê nơi kiến thức của mình.

Căn bệnh thường chấp, thường cho lẽ phải nơi mình hơn hết chính là một căn bệnh trầm trọng khó giải vì bệnh thường chấp nên chi phát sanh thường nghi, gọi là Nghi Chấp, đã nghi chấp đương nhiên mỗi Nhân Sinh đều cố thủ lẽ phải nơi mình, nghi kẻ nọ không biết mình cho mình là Quấy, trở thành nghi người đến mình vẫn bị mình nghi lấy.

Nói đến bệnh Thường Nghi, Thường Chấp trên Ý Thức đến Trí Thức chia ra nhiều giai cấp, nhiều trình độ, nhiều ý nghĩ khác nhau trở thành khắc biệt không đồng, nên mới có sự tranh giành từ quyền lợi đến ý thức hơn thua nhau thật là vô kể. Đối với Nhân Sinh Pháp Giới vì thường nghi chấp nên nếp sống trong vòng 20 năm liền có một năm tụ tập để chém giết nhau, 20 ngày sẽ có nửa ngày gây gỗ, 20 giờ liền có 05 phút ganh tị hoặc ghét ghen, mãi cứ chống trả nhau nơi sự bất đồng chỉ vì riêng tư nơi thường chấp.

So đến các nơi như: Địa Ngục Pháp Giới chỉ có một căn bệnh ở trong Cái Khổ, mong thoát khỏi nơi Khổ, khi đã thoát được là toại nguyện hồi hướng.

So Ngạ Quỷ có mỗi một căn bệnh tham lam ăn xài tiêu phí riêng cho mình, lại hay keo kiệt đối với kẻ khác, nếu đặng như ý cầu liền toại nguyện, bọn Ngạ quỷ rất ít nghi chấp, ưa bạn bè, thường gìn giữ Ẩm Thực và Tài Chánh cá nhân.

So với Súc Sanh chỉ có ước mơ Sắc Pháp Hoa Mỹ, lại đi nơi ái dục ái nịch nhiều hơn, ngoài ra họ vẫn dễ dãi ít nghi chấp, có khi họ thường trao đổi vợ chồng trong chốc lát làm thú vui giữa buổi dạ hội, nếu được như ý họ liền toại nguyện.

Về A Tu La có căn bệnh Nóng Nảy vội vàng bộc phát, sau khi hết cơn thường hay tự hối, lại cũng thường hay tự phát. Nếu bình thường rất ngay thẳng chân thật, chừa bỏ Cổi Giải được liền toại nguyện.

Tự Tại Đại Bi Tâm nêu rõ ra đây để các bậc tu nhận thấy, căn bệnh THƯỜNG CHẤP, chính là một căn bệnh đảo điên đòi hỏi quá nhiều, do nơi Tham Vọng sinh điên đảo nên phải dùng Trí Tuệ Nhiếp Độ giải mê, phá nghi chấp, phải dùng Trí Tuệ Nhiếp Độ Trí Thức, dùng Đại Trí để Nhiếp Độ Ý Thức, dùng Tạng Thức Nhiếp Độ Đại Trí đưa về Như Trí đến Như Lai Tạng, thông tạng Giác Ngộ.

Đại Bi Tâm do tình duy nhất mà nói lên Sự Thật, không sợ độc ác, chỉ sợ không biết hối cải, không đáng sợ bừa bãi nghinh ngang, ăn xài quá lố, keo kiệt nơi cá tánh mình, mà đáng sợ chưa biết hối cải. Không sợ Sắc Pháp hoa mỹ, ái dục chìm đắm mà chỉ sợ không biết ăn năn hối cải. Không sợ Nóng Nảy chém giết gây nhiều tội lỗi phá chùa, phản thầy phản bạn, mà đáng sợ chưa ăn năn sám hối. Khi bậc đã ăn năn sám hối chừa bỏ không tái phạm lỗi lầm việc đã làm trước, nay thề nguyện không làm. Từ một phàm phu lầm lẫn, nay nhất tâm niệm một câu CHÁNH NIỆM liền thành Phật.

● THIỀN ĐỊNH NHIẾP ĐỘ THIÊN

Môn Thiền Định chính là một môn Nhiếp Độ Chư Thiên cũng là một môn Trí Tuệ Diệu Giác Viên Minh, tỏ rõ hiện tại đang làm, vị lai phải đến.

"Có làm mới thấu trắng đen.
Chưa làm chỉ nói đã thèm thế thôi.
"

Bậc bước vào Tu Thiền đến khi dùng Thiền Định để Nhiếp Độ Chư Thiên, Bậc này thi hành nơi Lục Đạo ít nhiễm, vì sao? Vì bản năng Thường Nhiễm, Thường Trụ, Thường Chấp, chính là một nguồn mê đang tập nhiễm nơi Lục Đạo, nếu chưa Tu Thiền hoặc giả tọa thiền đơn giản Tâm lại thường mắc miếu nơi nghi chấp, chớ chưa lướt qua giai đoạn Nghi Chấp Phá Chấp Nghi, tỏ thông vạn Pháp.

Tu Thiền có một Trí Tuệ siêu thoát, nhận tỏ được lỗi lầm chính bậc tu đang vấp phải, rõ biết được những điểm sai vọng ở nơi mơ ước của vọng thức, thần thức viễn vong, còn có thể gìn giữ mục tiêu để đào tạo Chánh Giác, gọi là lập trường Bất Diệt Không Hai Tướng.

Tu Thiền thật biết sát thật. Chư Thiên, Chư Tiên cùng tất cả Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, mỗi một Chủng Tánh nào Chánh Báo nơi cõi nào, quyết định không sai chạy, hoặc giả đến nơi Chánh Báo Cảnh Giới, tuổi thọ nơi cảnh giới đó được hưởng bao nhiêu, lúc nào là lúc diệt vong, khi nào là khi thành tựu, thật biết chẳng khác nào kẻ biết đặng tuổi thọ của hoa trái, tuổi thọ của các loài Phù Dung, loài trùng loài dế cùng các loài khác ở nơi quả Địa Cầu này vậy. Do thật biết như thế nên chi Thiền Định để nhiếp độ thật rõ ràng tận biết Chư Thiên Tiên Thần không tập nhiễm cầu mong Thiên Tiên Thần để mà mình Chánh Báo nơi đó làm chi, nhờ biết được biết tỏ rõ nên Tâm không còn Tham Vọng mà hoàn toàn Giải Thoát khỏi Lục Đạo.

Bậc Tu Thiền và kẻ chưa Tu Thiền, Tướng thấy đồng nhau, nhưng Tánh thấy khác xa vạn dặm, nhờ dùng nơi Tánh Thấy mà thấy được Giác Minh, thấy được Thật Tướng về Như Tướng, nhờ Tánh Thấy mà thật biết tỏ rõ Chủng Tánh của Chư Thiên, Chủng Tánh Chúng Sanh, Chủng Tánh Bồ Tát, Chủng Tánh Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, đến A Tu La nơi Lục Đạo thảy đều tỏ rõ chẳng khác nào thấy được đứa bé đang cười vui thích khi cha mẹ cho quà mừng rỡ vậy.

Bậc Tu Thiền và kẻ chưa Tu Thiền, Cái Biết đồng đẳng, nhưng Tánh Biết khác xa muôn thế kỷ, nhờ nơi tận biết như thế mà có thể biết được Quả Địa Cầu này, tôn sùng các Chí Tôn Phật Đạo, Thiên Chúa cùng các Bậc họ đã Cung Kính Tôn Sùng. Vậy thì muôn ngàn vạn Hành Tinh khác, mỗi Hành Tinh đều có mục đích nơi họ Tôn Sùng Cung Kính những Vị đang Tôn Kính. Biết đến tận biết như thế, bậc nầy mới du hành dạo khắp, đồng hiện theo sở cầu của mỗi Hành Tinh để Nhiếp Độ, bằng lời lẽ diễn giải đúng theo tinh thần mong mỏi của hành tinh để cho chúng họ vui vẻ an lành Thân Khẩu Ý mà phát Bồ Đề Tâm Nguyện tu sửa tùy theo mỗi nơi mà Thọ Ký.

Bậc Tu Thiền thật biết Nhân Sinh Quan. Thiên Sanh Quan. Tiên Sanh Quan. Thánh Sanh Quan chung gồm các cõi cùng các Giới thảy đều dùng Ý Thức Hệ cực đối của Cảnh Giới hay Cõi hoặc Thế Giới của mình phân tách minh định tạo thành. Bậc Thiền định biết rõ họ đang theo dõi sống nơi mê man hoài ảo, nếu họ dùng đặng Trí Thiền Định họ liền tự biết nó không khác mấy với con Diều Giấy đang bay trên hư không, mà kẻ nắm dây Diều chính là một đứa bé đang vui thích mừng rỡ vì con Diều không thể nào ra khỏi đường dây của nó vậy .

Bậc Tu Thiền còn nghe được hơi thở của loài thảo mộc, cây cối cùng Quả Địa Cầu nhịp nhàng động thở cho đến tiếng Nhạc Trời của Chư Thiên trổi lên từng lúc thanh bình, nhờ nghe như thế, nhờ thấy như vậy, nhờ biết tường tận những gì mà tất cả đang lầm tưởng, do nơi lầm tưởng đương nhiên mong ước, do mong ước nên mới có gây ra được mất hơn thua tranh giành với nhau từng lúc, từng hồi và từng kiếp đâm âu lo sợ sệt chết sống không biết nó sẽ về đâu? Nếu tất cả thảy đều biết rằng: Từ Quả Địa Cầu cho đến các Cõi hoặc các Cảnh Giới, các Hành Tinh nơi Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới này. Sau khi mãn phần trong một kiếp có đủ quyền thụ thai hay hóa thai, sanh thai bất luận nơi nào cũng được, không phải cầu mong mà nó đến. Duy Nhất đồng hiệp Chủng Tánh nó liền về ngay nơi hiệp.

Tất cả đã lầm, tưởng mình sau khi mãn phần hết kiếp vẫn sanh trong Quả Địa Cầu nầy, hoặc mình là người thời được sanh làm kiếp con Người, có kẻ lại lầm khi mình chết là mất. Nếu chính mình lầm tưởng mình làm người sau mãn kiếp vẫn sanh làm người. Thì loài Trâu, Bò, Chó, Ngựa cùng các loài khác nó cũng yên trí như thế, còn kẻ cho chết là mất thật quá ư lầm lẫn những lỗi lầm trên chỉ có bậc Trí Tuệ Thiền Định thật biết tỏ rõ tỉ mỉ. Mỗi một Bậc khi mãn phần hết kiếp thì từ nơi Quả Địa Cầu nầy, liền thoát sanh qua trăm ngàn Quả Địa Cầu khác, đến nơi đồng hợp với Đức Tính, đồng hợp với cử chỉ liền được sanh nơi đó, rất hiếm Bậc đặng đồng sanh nơi mình mới vừa thoát để sanh.

Lại có Bậc từ Quả Địa Cầu nầy, lúc mãn phần vừa mới được thoát sanh liền được sanh phải lướt qua trăn ngàn Cảnh Giới hoặc lướt qua trăm ngàn Cõi, Cảnh Giới nào hay Cõi nào đồng hợp với Đức Tánh Cử Chỉ liền được sanh nơi đó. Bậc Thiền Định thật biết trên Quả Địa Cầu nào bất luận, hoặc Cõi nào bất luận, hay Cảnh Giới nào bất luận thảy đều sắp xếp có Lục Đạo nơi đó để an bài cho những kẻ, những bậc đồng hiệp mà tự sanh nơi Pháp Giới Lục Đạo tại đó.

Bậc Thiền Định rất tường tận thật biết, cứ mỗi một kiếp như thế được thai sanh làm Người quá khó, vì sao? Vì nơi tư thế của con người có thể kiến tạo được nền Đức Trí vững chãi, có thể Tu Phật thành Phật, tu Tiên thành Tiên, có thể giải mê hết chấp trở nên Bậc Thánh. Đó là một cơ hội may mắn hiếm có. Nếu đã làm người chưa biết tạo lập một phước điền, chỉ biết có mưu sanh đời sống cung đốn cho dục vọng, lòng tham bảo thủ cá tánh riêng mình sung sướng, thì chính mình tự phá hoại nhân cách nơi mình.

Đến lúc mãn phần phải trả những gì mình đã làm trước, đó chính là món nợ mình đã vay lấy, từ nơi ẩm thực vui thú đã giết các sanh vật như kẻ cướp lấy thân của chúng làm món ăn nhậu tế lễ hoặc đình đám vui nhộn, miễn lúc bấy giờ mình thỏa thích, còn về phần chúng bị khổ đau thảy đều phải trả.

Do hành sự như thế nên chi con người nào có Diễm Phúc nhứt thời 100 năm được sanh vào một kiếp làm người, lại tùy theo nơi sống của con người ấy, khi mãn phần còn thừa bao nhiêu thì phải tuần tự trả nợ miệng trong kiếp làm người đã sát hại chúng. Đó mới nói về điểm chính, còn các điểm khác chưa kể đến.

Ngoài ra có những con người quá ư tàn bạo như buôn bán thân mạng loài vật, dụng thân tạo nghiệp bằng cách trộm cướp, dụng ý tạo nghiệp bằng mưu sĩ, lừa gạt, sát hại người, dụng khẩu tạo nghiệp bằng tư cách nói dối, nói làm thiệt hại người, nói làm cho suy đồi Phật Đạo, nói cho kẻ nọ hận người kia, thì không thể nào quyết đoán được bao nhiêu năm mà họ được tái sanh làm người.

Chỉ trừ Bậc Bố Thí khuyên người Bố Thí, Trì Giới, Tinh Tấn, Nhẫn Nhục đồng khuyên người Trì Giới, Tinh Tấn, Nhẫn Nhục. Bậc nầy không sát sanh thường khuyên người không sát sanh, tạo Phước Thiện, tạo Công Đức khuyên người tạo phước thiện, công đức.

Nương nhờ phẩm Công Đức thường khuyên người giúp đỡ cho người, quyết định không làm điều quấy trái với lương tâm Nhân Đạo, lại bày cho người khác y như mình đã làm, cố tạo cho mình Đức Trí, khuyên người nên lập Đức Hạnh, lần đưa cho họ Trí Tuệ. Bậc đã như thế không bao giờ phải trả, hay phải vay món nợ miệng được, vì sao? Vì đã từng gieo Đức nhiều mà tội ít, làm sao có chỗ trả?

Đoạn trên Tự Tại Đại Bi quyết chỉ pháp tối diệu mà Bồ Tát đang thi hành, Chư Phật đã thi hành để sung vào phẩm Công Đức cúng dường tạo Công Năng Thọ Lãnh Bảo Pháp. Đó chính là Phẩm NHIẾP ĐỘ LỤC ĐẠO chính mình đặng hoàn toàn thoát khỏi Lục Đạo.

Đại Bi nói một cách thiết thực để cho các Bậc tu hành hồi tỉnh nhận được lời nói nầy thì tránh khỏi tập khí sanh tử của Lục Đạo, lại tỏ rõ Chân Lý tuyệt đối mà Chư Phật đã ra chẳng biết bao nhiêu Công Trình tâm huyết, mong đời nầy cùng đời sau nhận chân được nó để mà tu, thì nền Chánh Pháp vẫn trường tồn vĩnh cửu nơi Đông Độ.

Dù cho Bậc có một Trí Tuệ cứu cánh, sạch tất cả những lý giải Chân Như chăng, hoặc giả có Bậc đã từng Tọa Thiền có Trí Tuệ Thiền Tọa, hai Bậc nầy hay nhiều Bậc khác tương đương trình độ. Nhưng chưa thi hành Hạnh Nguyện nhiếp độ Lục Ba La để ngộ nhập đoạt đến Mật Đa, thì những Bậc ấy vẫn còn tập khí sanh tử nơi Lục Đạo. Đó chính là một lời dĩ nhiên phải như thế.

VIỆN HỘ ĐẠO LONG HOA HỘI THƯỢNG
"Đồng Phụng Chép Để Phổ Truyền"
Ngày 22 tháng 9 năm Giáp Dần