–“PHẬT ra đời có thẩm quyền độc lập chứng minh vũ trụ. BỒ TÁT có quyền chứng minh chúng sanh cấp bậc tu chứng.″

14. THỤ SANH VÀ THOÁT SINH

16 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 7874)
14. THỤ SANH VÀ THOÁT SINH
Thụ Sanh và Thoát Sinh là câu chuyện đáng kể, do lầm lạc thụ sanh từng nơi, từng chốn, từ tưởng vọng ra cảnh giới các Cõi, chia ra từng lớp lớp, mới có hàng bá thiên vạn triệu tứ loài, chung khắp vũ trụ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới sinh sống trong Như Lai Tạng. Dù cho những bậc củng cố tu hành tìm tòi thoát sinh nhưng chưa biết đường lối tu vẫn bị vòng quanh, thoát sinh từ nơi nầy đến chỗ kia thụ sanh không ngừng nghỉ, không ngoài vòng đai sanh tử. Chỉ Bậc đã từng bị Thụ Sanh công dụng công năng thoát sinh nhiều lớp, nhiều kiếp dạo khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới rồng người không thiếu sót, tu đạt Vô Thượng Đẳng Chánh Giác mới thuyết minh tài liệu giải quyết con đường sanh tử, để lại đời sau cho tất cả những Bậc Tu Phật nương vào mà thoát sinh.

Nơi Thụ Sanh đến Thoát Sinh là chỗ vận chuyển qua từng đơn vị thứ bậc, thay hình đổi dạng, thay cảnh đổi tình, thay hồn đổi xác, có hàng bá thiên vạn triệu tứ loài đang bị sanh, chịu thụ sanh và thoát sinh, nó không kể thứ bậc của kẻ lầm sanh, có khi nó từ trong A Tỳ Địa Ngục, hoặc Vô Gián Địa Ngục, gặp đặng duyên lành của Bồ Tát tận độ, liền đặng thoát sinh lên nhân thiên. Bằng có Bậc đang sanh sống ở nhân thiên, giờ phút lâm chung mạng vong thoát khỏi nhân thiên, thụ sanh vào Ngạ Quỷ, Súc Sanh hay Địa Ngục.

Nguồn vận chuyển nơi Thụ Sinh, chỗ thoát sinh không đáng kể với bậc tu hành lâu mau, sai một thời khắc liền sa địa ngục, đúng một thời đặng chánh báo nhân thiên. Do đó bậc tu hành nên gìn giữ Thiện Căn và Thiện Chí rộng rãi cốt đặng thoát sinh nơi chốn an lành.

Thụ Sanh nó chẳng khác nào tấm gương soi nét mặt mình, nét mặt vui tươi thì phản chiếu vui tươi, mặt buồn khổ trong tấm gương buồn khổ, nên chi kẻ thường sân hận, tự nghi để buộc lấy thân tâm, liền bị Thụ Sanh trong chốn ràng buộc, nó tùng theo nhân tâm lớn nhỏ rộng hẹp để thụ sanh, mới nhìn nhận thấy nó đơn giản, từ kiếp nầy bị sanh qua kiếp kia, từ Cõi nầy lai sanh Cõi khác, thật ra nó rất nhịp nhàng trong tư tưởng diệt sanh, sanh diệt hằng ngày. Khi tư tưởng cố định liền thụ sanh, đã thụ sanh liền có hành động, hành động nó theo trình độ giai cấp, đàng hoàng hay lung lạc, do Bản Năng Bị Sanh mà Phát Hiện, được gọi là Tâm Tánh của mỗi người, có như thế nên chi mới có hoàn cảnh, hoàn cảnh không ngoài Thuận Nghịch tốt xấu trở thành sóng cồn biển khổ ngược xuôi.

Một khi con người chán chê kiếp sống, mong giải thoát, phải nương nơi Thụ Sanh cổi giải cho đặng thoát sanh từng giai đoạn, nên mới niệm niệm cốt dứt bỏ từng quan niệm theo tấm gương của Chư Bồ Tát cùng Chư Phật, đã từng hóa giải thoát sanh Bá Thiên Vạn Triệu Pháp Giới, đến tự tại vô ngại thoát sanh về với Giải Thoát.

Bằng niệm niệm nơi tưởng niệm, mơ ước niệm hay tận diệt bối cảnh để niệm niệm, vẫn qua từng cơn thụ sanh mà diệt chớ nào có Giác Niệm đâu. Đến khi đặng thoát sanh nơi nhân thế, tái sanh đặng thọ hưởng giàu sang, kẻ hầu người hạ, tâm chí mơ màng chưa thoải mái, vẫn còn trong chốn thụ sanh, cho nên tất cả chúng sanh tứ loài, lúc đã bị sanh trong vòng sanh tử, dù cho Vua Quan quyền quý, đến kẻ đói khổ nghèo nàn, sống trong kiếp sống không bao giờ thoải mái thân tâm, bởi thụ sanh thoát sinh qua từng Cõi không ngoài vòng Sanh Tử.

Có những bậc trí nhân, họ cố đánh đổi từng hoàn cảnh để khắc phục hoàn cảnh, nhưng càng đánh đổi bao nhiêu lại càng lắm cảnh không thể giải quyết đặng, họ nhìn nhận bất kham, thành thử chấp nhận chịu đựng cho đặng yên thân. Còn kẻ thiếu trí tiểu nhân họ bất mãn thù ghét sân hận tất cả các hoàn cảnh không vừa với lòng tham vọng, một là chán chê phiền não, hai nữa nhìn tất cả thảy đều xấu xa không tốt bụng, đó chính là Thụ Sanh Kiến Trược (mắt nhơ) phải bị kiếp trược, qua đến kiếp sau thân mạng đọa sanh loài thú dữ.

Nơi Thụ Sanh và Thoát Sinh đều nằm trong tài liệu Phật Đạo Vô Lượng Thọ, Chánh Báo hay Thọ Báo do thân tâm mình chấp nhận mới thụ sanh, quả báo hay phước điền bởi mình tạo lấy. Các Bậc tu hành pháp môn Bồ Tát Hạnh, con đường giải thoát mà chưa giải thụ sanh, Tâm còn vướng đọng chưa hẳn thực hiện Giải Thoát Môn.

Thụ Sanh mà giải đặng mới gọi là ĐỘ SINH, bằng tư tưởng quan niệm thuyết pháp giúp đỡ cho mọi người, tâm chí tánh tình, nghiệp căn nghiệp lậu, kiết sử cá nhân bảo thủ lấy thân tâm mình để mặc nhiên dung dưỡng, chưa hẳn đã Độ Sinh. Nên chi Chư Bồ Tát tu theo Chí Nguyện, lập Hạnh Nguyện, ban đầu nương nơi nguyện để tu, đến giai đoạn Trực Giác mới tường tận lướt qua các bối cảnh thuận nghịch, tâm không mắc miếu mới là Độ Sinh.

Tuyệt tác thay hai chữ ĐỘ SINH, Độ Sinh là một trọng yếu nhất trên con đường giải thoát. Nếu đã trót bị sanh vào thế gian, phải sanh sống từng lớp, từng giai cấp trình độ và Đức Tánh của mổi một cá nhân con người. Tu mong làm như thế nào vươn mình qua từng giai cấp trình độ, cử chỉ của thế nhân, thời chính bản thân phải tận dụng Trí Hóa thực hiện cử chỉ và ngôn ngữ, tâm chí hướng thượng, mới đến chốn thụ sanh thành đạt bậc Vĩ nhân hiện đại hay văn hào siêu việt. Bằng bản năng chưa khai thác, thân mạng vẫn nằm yên, tư tưởng ước mơ mơ ước, đến lúc thụ sanh mơ ước, miệng nói ba hoa rốt lại chưa thành đạt đặng những gì, trở thành: NĂNG XUẤT BẤT NĂNG H.ÀNH Nói ra hay chưa thực hiện hay, chỉ sống nơi trừu tượng vô ích. Đối với con đường Tu Phật phải thực hành nơi Lý Trí hiểu biết, mới thâu đạt tận giác Bản Năng, biết nó là tật xấu do nghiệp phát sanh, ít nhất phải hóa giải độ sanh mới trở về lành mạnh, nằm yên làm thế nào lành mạnh để thoát sinh?

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Ngài thật tận biết, nên mới gọi tất cả đều là Chúng Sanh Giới, vì chỗ Thụ Sanh ưa chấp năng phân bị biệt, trở thành mỗi mỗi đều giới hạn, gọi là Chúng Sanh Giới, cho nên Đời Sống cùng kiếp sống, từ ngôn ngữ đến hành động cử chỉ bị phân, không ngoài trình độ giai cấp mà thụ sanh ra các Cảnh Giới, các Cõi cao thấp sướng khổ sáng tối trả vay vay trả không ngừng. Ngài đã từng qua chốn Thụ Sanh, nhiếp độ tất cả Chúng Sanh, độ sanh Ngài nói rõ, chỉ rõ từng cơn mê lầm của Chúng Sanh Giới bằng LUẬT NHÂN QUẢ. Rộng thời từng kiếp kiếp trả vay, hẹp thời từng nơi thụ sanh của tư tưởng hành động của Tứ Loài, không ngoài năng phân bị biệt cấu kiết sanh tử, tử sanh. Ngài đã từng chỉ thẳng, đối với thân mạng của Ngài phải Thọ Sanh trải qua chẳng biết bao cam khổ, trong tập tài liệu: TIỀN THÂN THỤ SANH NHIỀU KIẾP.

Phải chăng Đức Bổn Sư, Ngài đã thực hiện con đường hóa giải tận độ chúng sanh tánh mà hoàn toàn giải thoát, Ngài đặng Tự Lợi, Ngài trình bày Tam Tạng Kinh Điển để cho Đời sau đặng lợi chăng? Lời nói của Bậc Vô Thượng chưa hẳn lời thuyết minh thừa thải mà chính Lời Vàng Thước Ngọc ban cho. Chỉ vì tất cả trong vòng Mê Chấp, nhiều thứ Bậc chưa thấu đặng mà thôi. Đứng trong giai đoạn những bậc thực hành hóa giải thì hiểu thấu ít nhiều. Khi chưa đào sâu nơi Luật Nhân Quả hay Tiền Thân Đức Thích Ca, nhận định tầm thường cho là thuyết minh lý luận, cốt xoa dịu tâm tình bận rộn. Nhưng thực ra đó chính là tài liệu Độ Sinh tránh khỏi vạn pháp, tỏ pháp, thâm nhập pháp giới mà thoát sinh.

Ngài đã từng nói: Ngoài thế giới hoàn cầu có rất nhiều Thiên Loại, Tiên Loại cùng Thánh Thần Loại, Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới Tịnh Độ cùng Quốc Độ, đến Ba Cõi Sáu Đường, vẫn vướng bị Thụ Sanh tựa như Vi Trần khắp cùng Vũ Trụ. Do nơi non trí cạn suy mà tất cả Thiên, Tiên và Nhân Thế có hy vọng ngưỡng vọng Tri Kiến Giải Thoát Thành Phật. Nhưng chỉ nhất tâm thành Phật với từng Giới Cảnh chớ chưa hoàn toàn Tận Giác thành Phật Chánh Giác, thời biết làm sao tường tận để lãnh hội căn bản mà Chánh Giác.

DƯỚI MẮT THIỀN SƯ ĐÃ TỪNG SÁT THẬT

Ta đã từng thấy, bộ óc đã từng xem xét, dù nói ra họ đang bị sanh vạn kiếp, mãi đeo đuổi Thụ Sanh, làm sao cho lời Ta nói thật.

Họ ngỡ thế gian là khổ, họ chỉ mong thoát khổ, nơi tâm khảm hoài mong làm như thế nào thoát khỏi Trần Lao, họ tu trong một kiếp tu, chưa bao giờ nghĩ đến hiện tại, nơi hiện tại lướt qua hóa giải đặng thoát sinh. Họ mong tu giải thoát cầu lấy giải thoát, nhưng chưa bao giờ giải thoát, khắc phục để thực hiện, mổi một khi bị va chạm đến chỗ của họ đã từng thụ sanh.

Dù cho họ tin tưởng ngoài thế giới loài người có chẳng biết bao nhiêu thế giới sung sướng thanh nhàn đẹp đẽ gấp trăm nghìn lần nơi nhân thế. Họ mơ ước đến nơi đặng sanh trong Cõi đó bằng ước mơ tưởng niệm, chớ chưa hóa giải cốt tu đạt đến chỗ Giác Niệm.

THẾ NÀO LÀ GIÁC NIỆM?

Giác Niệm là những bậc đã từng huân tập, biết tỏ rõ, làm thiện được sanh Thiện an hưởng, làm ác phải sa đọa làm thân trâu ngựa, sống trong hoàn cảnh cực hình, do đó nên chi làm Thiện bằng cách nào vẫn thụ sanh trong chốn Thiện mà Thụ hưởng, còn ác phải sa đọa vô cùng. Chính Ta đã từng sát thật hai nơi nên tư tưởng dung thông thanh thoát thiện căn, đào tạo thiện chí, truy tầm Giác Niệm về với Chính Ta mà đặng thoát sinh bất diệt.

Ta không vì Thiện an trụ, không vì ác mà thù hận ghét vơ, cũng không vì tốt tham cầu, nơi xấu vứt bỏ, từ nơi thực hành quen thuộc, ban đầu ta cố gắng để dung thông đến giai đoạn, mới nhận thấy quen lần sống nơi Bản Chất, nó làm cho Ta bất ngờ nghĩ lại, thời chính Ta đã hóa giải vạn triệu lần lướt qua từng giai đoạn thụ sanh, nếu ta đứng lại, nó không chấp, vẫn bị thụ sanh trong chấp không vậy.

Ta nhịp nhàng kiểm soát từng duyên khởi Sanh Diệt, Diệt Sanh, mới nhận chân nơi nó , cuộc sống hằng ngày chẳng biết bao sanh diệt, khi mơ màng chưa phân định thời tìm công việc hằng ngày để làm cho giải cơn tịnh biệt, vì tịnh biệt là nơi an trú trụ sanh của lười trễ nằm yên, phải làm chủ động thụ sanh tịnh biệt.

Nương nhờ nơi chủ động vạn pháp nên không Trụ Chấp hai bên Có Không Thiện Ác mà Huân Tập đặng Giác Chân, lần nơi Pháp Giới Hành Thâm, cốt làm sao đặng thâu nhận Giác Tánh. Ban đầu tu như thế, thực hiện như vậy, huân tập nhiều Giác trở thành Đại Giác. Nào ngờ đâu đã từng, từ đầu đến cuối chỉ có Thụ Sanh và Thoát Sinh qua từng Sanh Diệt không trụ chấp mà hoàn mỹ Giác Niệm, mới hay Niệm Giác nó diễn hóa thay đổi từ Thân Tâm hồi sanh Giác Niệm.

Khi toàn thân đều hóa, lý trí viễn thông, theo thứ lớp tỏ rạng, mới hay nơi chốn thụ sanh, trở thành bá thiên vạn ức nơi chốn, nơi nào chốn ấy, từng lớp lang thể chất của nó đã sẳn, vì Bổn Lai Diện Mục của nó như thế. Tại Bản Thân mình nuốt nó vào thì nó hoá như thế, biết làm sao mà nói nó đặng. Chỉ trường hợp nuốt nó vào rồi kinh nghiệm, lại nhả nó ra, giác chân tướng nó, được gọi là Giác Niệm, đến khi đầy đủ toàn khắp nơi chốn thụ sanh, chính mình đã thoát sinh toàn khắp, gọi là toàn thân hợp hóa tận thành.

Do sự việc trên, mắt Ta đã từng thấy, óc đã từng xem xét, tai đã từng nghe đầy đủ, nơi Chánh Báo Thọ Báo nó có từng Phẩm Lượng kết nạp hình thành các Cõi, Thượng Sanh Tiên Thần, Hạ Kiếp Ma Quái, lớp lớp trong khắp Vũ Trụ Tam Thiên thảy đều thứ lớp, như Cõi Thiên có Thiên Ma, Cõi Nhân có Nhân Ma, cảnh Tiên có Tiên Ma, cốt ngăn cản không cho thoát sinh ra ngoài vòng Ma Quái. Thật ra mỗi chúng sanh đều có Tam Thân Tứ Trí Ngũ Nhãn Lục Thông, chỉ vì Bị Sanh nên chưa tỏ rõ để sử dụng, do đó nên Cõi Nhân Bị Sanh, sự nhìn nhận không ngoài Nhục nhãn (mắt thịt), tai nghe không ngoài Tiếng, gọi là Thinh, gặp Cảnh sanh Tình không ngoài Sắc Pháp mà biết, vòng đai Nghe Thấy Biết bị biết bị thấy và bị nghe ở mỗi nơi làm sao tin đặng lời Ta nói là thật.

Còn chính Bản Thân Ta đã từng ra vào pháp giới Ta xem Tịnh Bất Tịnh, thuận hay nghịch đối với Ta đều không nghĩa lý. Ta thật tỏ rõ vạn pháp di chuyển qua từng cơn, vốn nó là một sự lý thường đối với Ta, Ta đã tỏ biết mỗi mỗi tương song đồng hóa sanh là thể như nhiên nơi nó, nếu lầm chấp bị vướng Thụ Sanh, bằng biết đặng thì thoát sinh không có chi xa lạ, do đó ta mới tận độ nhanh chóng hóa sanh giúp đỡ từng lớp lớp khỏi bị thụ sanh được thoát sinh ra khỏi những cảnh giới và các Cõi cơ cực.

Tất cả thảy đều lầm nhận, họ đồng chấp nhận thế gian là biển khổ, họ nào ngờ ngoài thế gian, sa đọa Cõi Âm còn khổ đủ chiều hướng khổ. Ta dùng Tam Thân, Tứ Trí, Ngũ Nhãn, Lục Thông rất tường tận cái khổ, chốn nơi âm u đau khổ của Âm Cõi, chỉ vì họ tùng theo duyên nghiệp bị Thụ Sanh. Duyên Nghiệp nầy kiếp hiện tại thời liên hệ đời Quá Khứ, do đó cho nên hiện tại, chưa tu mà đương nhiên nó đặng, chưa làm vẫn đầy đủ thiện căn, chưa cải hóa nó vẫn có Đức Độ. Ta nói ra ban đầu rất khó hiểu, nhưng cứ suy nghĩ, nơi bản thân mình và mọi người có thể biết đặng lời Ta nói thẳng.

Nếu có những vị chưa tu, mà đương nhiên tánh tình rộng rãi, Tâm ưa thích Thiện Căn, các đố tật vốn có nhưng ít phát hiện. Họ chưa từng xem kinh giáo mà đã có Tánh Bổn Thiện thì sao? Đó phải chăng từ Quá Khứ, hiện tại kết hợp đồng hóa chăng? Còn bậc đang tu, nhìn nơi tu thiện căn Tu Tập, Phát Tâm rộng rãi tu tập phát tâm, Bủn Sẻn eo hẹp cố gắng tu trì mở rộng, Đố Tật buông lung kiên trì gìn giữ, đến lúc hình thành. Thoát Sinh ác tánh, thụ sanh Thiện Căn. Thoát Sinh Bủn Sẻn eo hẹp xâm xĩa Thụ Sanh rộng rãi bao dung. Những Bậc nầy được gọi là biết tu nơi Sáng Tưởng thoát sinh chốn sa đọa Cõi Âm.

Bằng tu hành trăm nghìn đố tật giữ nguyên chưa nhìn những bậc họ chưa bao giờ tu mà đã sẳn có để tiến hóa, chỉ tu lấy lý trí hiểu biết hóa giải. Nếu hóa giải lý trí rốt ráo, đến thời tận giác thì hoàn toàn giải thoát tất cả thụ sanh. Bằng chưa sạch tỏ tánh, chưa đạt trình độ Tu Chứng, chưa Thông vạn pháp chuyển quay thì làm như thế nào Tận Thành Chánh Quả, phải bị sa đọa nơi Tăng Thượng, sa đọa vay trả của bản tánh xấu xa mà thọ báo trong vòng Ngạ Quỷ, Súc Sanh đến Địa Ngục, lại làm cho những bậc tin mình phải đi vào con đường Ba lối ác. Đến lúc mạng vong, tất cả hành vi thanh thô tế nhị nơi Chánh Báo hoặc Thọ Báo đều ứng trực Thụ Sanh vào Cảnh Giới cùng các Cõi không sai chạy.

Dưới mắt Ta đã từng sát thật:Tất cả đương Thời Lạc Pháp Hạ Lai nầy, theo quan niệm vô cùng tác hại. Họ chỉ dùng Trí Tuệ còn Đạo Hạnh lại đi vào con đường PHI NHÂN, họ nào có thấu đáo con đường Tu Phật giáo lý Đại Thừa chính là một giáo môn giải thoát thực tiễn. Nó cũng là một sa đọa tận cùng, vì sao? Vì hóa giải chấp mê, khi không còn mê Đại Giác có lợi vô cùng. Bằng còn mê còn sa đọa do đó ta cần phải nói.

Ta đã từng sát thật:Từ nơi Thế Gian đến xuất thế gian đặng ngôi Tiên Thần Thánh Hóa là một điều đã gay go, phải đánh đổi tất cả những gì mới tu đạt đặng chớ lầm lạc nơi mê chốn ngộ mà thành. Ta nói như vầy chưa phải là làm cho tất cả những bậc tu hành thoái bộ đâu. nói lên để biết trọng lượng thứ bậc tu đạt mà đưa đến tri kiến giải thoát thôi.

Ta đã tường tận thứ lớp thứ bậc của thụ sanh đặng thoát sinh như sau, các Vị nghe lấy:

Khi làm Con Người cho đúng thứ vị con người đã là khó, nếu thoát sinh vươn mình qua khỏi con người phải có chí hướng thượng, tâm bao dung. Bằng bao dung rộng rãi giúp đở cho tất cả con người, không sanh tâm hờn oán lúc bấy giờ mới thoát sinh qua khỏi thế gian thụ sanh xuất thế gian lên từng thứ bậc. Thứ Vị nơi con người nó phải có Bốn Thứ Lớp sống theo Hạng Người. Một là con người Phàm Phu Tục Tử, hai là con người có Tư Cách, ba là con Người Quân Tử, bốn Vĩ Nhân con người. Khi con người thoát sanh chỉ chứng tri Thiên Nhân đến Tiên Thần Thánh Hóa. Bằng tu cầu Giải Thoát phải có Tứ Thánh Thành Phật, đó chính một quyết định, không còn cách nào hơn cả.

THẾ NÀO HÀNG TỨ THÁNH THÀNH PHẬT? Hàng Tứ Thánh gồm có: HỘ PHÁP đến HỘ PHÁP BỒ TÁT, thứ Bậc BỒ TÁT thành tựu BỒ TÁT, đến BỒ TÁT MA HA TÁT. Thứ Bậc MA HA TÁT nương nơi Bổn Nguyện Nhất Sanh Bổn Xứ Thành Phật.

* Khởi điểm ban đầu. Tâm Chí Hộ Pháp, tín thành Hộ Pháp, Tự Nguyện Hộ Pháp. Dù cho Hộ Pháp bằng cách nào chăng vẫn đứng nơi thứ vị Chúng Sanh Hộ Pháp. Vì Sao? Tâm Chí Tín Thành Hộ Pháp chớ chưa hẳn Tự Nguyện Hộ Pháp, Tâm Chí Tín Thành nó còn nằm nơi Cá Tánh Hộ Pháp, Cá Nhân Hộ Pháp cầu lấy Phước Điền, phải trãi qua nhiều kiếp tu hành Thông Đạt Phật Pháp. Tâm không nãn Chí. Tín chẳng Thối Chuyển, mới bước vào Tự Nguyện Hộ Pháp. Hộ Pháp Tự Nguyện chính là Hộ Pháp Bất Khả Tư Nghị mới đến cương vị Hộ Pháp.

* Bước đến Tầng Thánh thứ hai: Là Hộ Pháp Bồ Tát. Hộ Pháp Bồ Tát tu hạnh Bồ Tát, hành thâm pháp giới tận độ giới sanh thực hành Hạnh Nguyện cúng dường Như Lai Phật, lần tiến tu hành trãi qua nhiều kiếp mới tu đạt Bồ Tát Tự Nguyện Bát Nhã Bồ Tát Bất Khả Tư Nghị liền mới bước sang cương vị Ma Ha Tát gọi là: Bồ Tát Ma Ha Tát.

* Tần Thánh thứ Ba: Từ Bồ Tát Ma Ha Tát, Bồ Tát Ma Ha Tát gọi là Đại Bồ Tát trãi qua Bất Thối Bồ Tát thành tựu Công Đức Sung Mãn vào hàng Đại Bồ Tát.

* Đến Thánh thứ Tư: Nhất Sanh Bổn Xứ thành Phật. Trong Bốn Thời của hàng Tứ Thánh, thật dài dặn, trãi qua vô lượng số kiếp, vô lượng Công Đức, vô lượng phẩm cúng dường Như Lai, cúng dường Chư Phật mới thành Phật, chớ nào phải tu một kiếp mà trưởng thành đâu. Sự trở thành trong một kiếp, nó đã có sẵn gieo trồng, có sẵn đầy đủ ngày nay mới tu đạt Chánh Giác.

Chẳng khác nào: Hai mươi bốn làng nhỏ kia mới thành lập cơ sở Huyện Quan. Sắp sửa tập trung dân làng đi đón Huyện Quan về nhậm chức. Các Dân Làng bở ngỡ nơi lòng, mong gặp Huyện Quan, có kẻ ngu si chưa biết Huyện Quan như thế nào, từ đâu đến làm Huyện Quan, ai là con người phải đặt ông Huyện Quan, bèn đến hỏi Ông Xã Trưởng đầu làng mình để biết Huyện Quan.

Ông Xã Trưởng đầu làng cười đáp: Ông Huyện là một Con Người, đã từng đi học hồi còn nhỏ. Đến lớn lên thi đậu, được Nhà Vua phong chức Huyện Quan. Vì Huyện Quan đã từng biết. Lý Luật, biết tư cách, biết đối xữ từng thứ lớp trong làng, thanh liêm quảng đại quần chúng mà đặng làm thứ vị Huyện Quan vậy. Đối với hàng Tứ Thánh từ Ngôn Hạnh đến Đức Hạnh, Công Năng, công đức vô lượng ngày nay mới tu cầu giải thoát lần lượt mà tu đạt đến hàng Tứ Thánh thành Phật.

Ta nói lên lời chân thật trong ngày Đản Sinh năm thứ: 65 bước qua 66 để đời nầy đời sau làm tài liệu, Phải Tận Độ Chúng Sanh Tánh, đang khi chúng sanh còn vòng Thụ Sanh mà đặng Thoát Sinh, gọi là Tận Độ Chúng Sanh, giai thành Phật Đạo.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Lưu niệm ngày 24-12 Quý Hợi
(1983)