–“PHẬT ra đời có thẩm quyền độc lập chứng minh vũ trụ. BỒ TÁT có quyền chứng minh chúng sanh cấp bậc tu chứng.″

Ấn Chỉ I: PHÁP ĐỘ THỜI ĐÔNG ĐỘ

17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 6400)
Ấn Chỉ I: PHÁP ĐỘ THỜI ĐÔNG ĐỘ

windowshining_web



PHẦN KỆ:

Tây Phương cực lạc trổ huỳnh quang,
Đông Độ Đương Lai đã mở màn,
Diệu dụng tương song về nhất tướng,
Tứ loài đang diễn mộng chưa tan.

PHẦN GIẢI:


TA đi Tây Độ tỏa huỳnh quang,
TA lại Đông Phương vẹt bức màn,
Hòa hợp tương song đồng hiện tướng,
An khang lạc quốc trọn vinh quang.

PHẦN DIỄN:


Ai hiểu đến TA giữa lúc nầy,
Ráp vần xoay vận hiệp Đông Tây,
Lời thề Vương Bảo tô nền tảng,
Cốt vãng hồi sanh thoát đọa đày.

PHẦN HÓA:


Thiên Tiên mừng rỡ vỗ tay,
Địa Tiên ngơ ngẩn châu mày thở than,
Nhân sinh đi đứng ngỡ ngàng,
Các hàng Bồ Tát cười vang vui mừng,
Tam Giới rung chuyển chưa ngừng,
Ta ngồi Bửu Tọa vạn tuần xinh xinh.

PHẦN ẤN CHỈ:


Thế nhân cầu đạo chân thành,
Long Hoa nào rõ trở thành đảo điên.
Thân phàm Long Thọ vẹn tuyền,
Còn TÂM, ÓC, TRÍ của Tiên, Thánh, Thần.
Giác toàn chính thật là THÂN,
Tại sao chưa tỉnh phân vân nỗi gì?
Tìm đâu? Nhìn thẳng bài thi,
Lời TA đã ngỏ những gì Phật Ngôn.


 * * * * * * *

PHẦN KỆ

"Tây Phương Cực Lạc" Ý nói Cõi Trời Đâu Suất an vui, an lạc trong ánh đạo vàng.

"Đông Độ Đương Lai đã mở màng" Ngài Hạ Sanh tại Đông Phương, Đông Độ còn có nghĩa Cư Nhân Hạnh (Cư Sĩ). Đương Lai: Di Lạc đã mở Đạo.

Ngài dụng đủ phương tiện tuyệt mỹ để chỉ đời là Đạo luôn song hành, luôn hiện như hình với bóng. Tuy hai nhưng chỉ có một tướng. Ngài tùy thuận cốt đưa nhân sinh về một lối tu duy nhất là Giác Ngộ.

Khi Ngài mở màng khai Đạo tứ loài đang gia tăng cường độ, đua tranh sát phạt nhau hỗn loạn, đang triền miên sống trong cơn mê.

PHẦN GIẢI

"Ta đi Tây Độ... Ta lại Đông Phương..." Hóa thân Đức Tịnh Vương hiện nay, chính Đức Di Lạc từ Thiên Thừa Hạnh thuở trước, nay hiện Cư Nhân Hạnh, mở màng vô minh cho lối tu sai lạc của thời Mạt Pháp. Ngài hòa hợp cho nhân sinh dụng Nghe, Thấy, Biết trong đời để tu hành, chuyển cái nghe, thấy, biết trở thành vạn pháp không mắc miếu. Thực hiện được, con người sẽ sống an lành, hạnh phúc, gia đình sẽ ổn định, đất nước an lạc.

PHẦN DIỄN

Ngài thường đi khai đạo nơi có chân tử như Nha Trang, Qui Nhơn, Đà Nẵng, Huế, Sai Gòn. Cũng có một số tu sĩ xuất gia đến gặp Ngài, đọc kinh sách giải thoát của Ngài. Họ chỉ biết Ngài là ông Thầy Tịnh Vương. Suốt lộ trình Ngài không hề có một tu sĩ nào tìm hiểu pháp môn giải thoát, cũng không quan tâm, lại còn xem lối tu này không cần thiết, hoàn toàn xa lạ.

Song song với việc dạy Đạo cho Tứ Chúng quanh Ngài. Ngài còn một Đại Nguyện khó khăn nữa, đó là quyết đem Bảo Pháp của Chư Phật xây đắp cho thế gian, chuyển từ Phương Đông sang Phương Tây, cho họ có lối tu thực tiễn sửa tánh, giải bỏ đố tật xấu, hóa giải hoàn cảnh đến Minh Tâm thoát khỏi khổ ải, ngay trong mỗi mỗi gia đình. Việc làm chuyển thế giữa lúc này, không một bậc lãnh đạo tôn giáo nào hiểu gì cả.

PHẦN HÓA

"Thiên Tiên mừng rỡ vỗ tay" Vì sao? Ở cõi Tiên, chư vị Thiên Tiên đang quan sát theo dõi chuyến Hạ Lai của Ngài. Thiên Tiên là những bậc ở ngoài trái đất của chúng ta, họ rất nhẹ cảm. Từ quá khứ cho đến vị lai rất giao cảm, tất cả sự di chuyển điều động vạn pháp xuất hiện hay lưu hoàn thảy đều tỏ thông liễu ngộ, chỉ sút kém với hàng Bồ Tát chưa biết thân mạng nơi mình đổi thay, thay đổi như thế nào để giải quyết sanh, tử, lão, khổ.

Bậc Thiên Tiên nhìn thấy vũ trụ, dân sự an lành, đến thời Hạ Lai Mạt Pháp Địa Ngục phát sinh, nghiệp đau khổ tràn đầy liền nhìn thấy được có Đại Lực cứu độ tứ loài nên Thiên Tiên mừng rỡ vỗ tay.

“Địa Tiên than thở châu mày khóc than.” Vì sao? Vì Địa Tiên luôn hướng về thời Trung kiếp, thời này tu hành trọng Đạo Đức, Thánh Hiền. Đến khi thấy hỏa ngục phất, Đại Lực Di Lạc tận dụng nương theo thời Hạ Lai cứu độ. Còn hàng Thánh Hiền, hàng Bồ Tát đều đi trong “Phổ Môn Phẩm” tức đi trong HỎA NGỤC, chịu đắng cay, chịu nhục nhã, chịu cực hình để độ khổ cứu độ chúng sanh. Hàng Địa Tiên không hay biết khi thấy Thánh Hiền, Bồ Tát bị khổ như thân trâu, ngựa nên cho là Phật Đạo suy đồi, mạt pháp mà khóc than.

“Nhân sinh đi đứng ngỡ ngàng” Vì sao? Vì nhân sinh bị cuộc sống đảo lộn. Từ có hóa không, từ an ổn đến hỗn loạn, từ sum hợp đến ly tan, từ nơi mát mẻ hóa nóng bức, từ nơi êm ấm hóa không nhà cửa sống lang thang. Nhân sinh cho đến bậc tu mất thăng bằng, không còn định hướng, không còn tin Phật đúng đắn, chạy theo hỏa ngục, chạy đến chân trời mới... Ai ai cũng kinh ngạc, lo lắng, liều lĩnh, bỡ ngỡ.

"Các hàng Bồ Tát cười vang vui mừng" Hàng Thánh Hiền, Bố Tát nguyện đi trong "Phổ Môn Phẩm" nên đứng trước hoàn cảnh khắc nghiệt thân tâm vẫn ghi nhận và rỗng rang vui mừng. Độ khổ là món ăn của hàng Bồ Tát nên vui mừng chịu tận theo vết chân Chư Phật.

"Tam giới rung chuyển chưa ngừng" Tam giới: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới, Các Cõi Trời này thấy thế gian bị hỏa ngục phất cũng lo âu, bàng hoàng, toàn thân chư vị ở các Cõi này rung chuyển đau đớn theo.

"Ta ngồi Bửu Tọa vạn tuần xinh xinh" Ngài biết chẳng qua chỉ là diễn ảo của thế gian và lần Nhứt Sanh Bổn Xứ này Ngài thành Phật quả mãi mãi xinh tươi bất diệt.

PHẦN ẤN CHỈ.

Ngài đã biết thế nhân hiện nay tu theo Đạo Phật số lượng rất đông, hầu hết đều nương tựa vào Tăng Ni ở chùa, cốc núi rừng, lòng rất thành tâm cầu đạo vì ngao ngán cuộc đời. Riêng Ngài vẫn than:

"Long Hoa nào rõ trở thành đảo điên" Câu thơ này cho biết qúa rõ Đức Di Lạc đã ra đời, khai mở Long Hoa, dạy đạo Đức chúng sinh sống trầm luân trong bể khổ đến Bờ Giác. Không một ai ở các tôn giáo chờ đợi Ngài, nhận được lối tu thực tiễn của thời Mạt Kiếp: Tự tánh tỏ tánh, hóa giải Hoa Pháp Tánh. Trái lại đảo điên, ảo tưởng chờ núi Thất Sơn nổ.

"Phàm thân Long Thọ vẹn tuyền" Đến đây Ngài chỉ thẳng, thân Tịnh Vương kiếp này đây chính là thân phàm Long Thọ thật đúng đắn. Thân Long Thọ ngày xưa của một kiếp, chính là thân Di Lạc đây đang hiện tướng ở Ta Bà thế giới này.

"Còn tâm óc trí của Tiên, Thánh, Thần" Tiên, Thánh, Thần là những bậc có cái nhìn nhạy cảm hơn thế gian, lời nói đây còn sáng suốt tỉnh táo như óc trí của Tiên, Thánh, Thần vậy.

"Giác toàn chính thật là thân" Ngài chỉ thẳng giác ngộ chính nơi thân tâm của mình sao lại không nhận còn vọng cầu bên ngoài làm chi. Lời này, là của Chư Phật thực sự.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Giờ Ngọ ngày 20-1 năm Đinh Tỵ
(9-3-1977)


*Thời Đông Độ: Thời Đồng Hóa Nhân Sinh, hiện thân Cư Sĩ,
 dìu dắt bậc tu về với Chân Tôn Hiện Giác.