–“PHẬT ra đời có thẩm quyền độc lập chứng minh vũ trụ. BỒ TÁT có quyền chứng minh chúng sanh cấp bậc tu chứng.″

16. Sự tái sinh của chúng sanh

15 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 28492)
16. Sự tái sinh của chúng sanh
Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc xác nhận có sự tái sinh.

Khoa học càng phát triển, càng văn minh tiến bộ chừng nào thì khoa học càng đem cái tiện nghi sung sướng cho con người chừng ấy. Do một số người chưa hiểu thấu đáo đã nảy sinh nghi ngờ về thuyết sanh tử luân hồi, nhất là ở Phương Tây. Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật khi đã được chánh giác, Ngài thấy tất cả chúng sinh đều sanh diệt, rồi diệt sanh triền miên trong sanh tử luân hồi không lúc nào dứt. Ngài lại tường tận thấy người cao sang kẻ hèn hạ, người đẹp kẻ xấu, người sung sướng kẻ khốn cùng đều thọ báo bình đẳng theo những hành vi tạo tác của chúng sinh.

Ngài cũng đã từng khai thị: Chính ái nịch, ái dục đưa chúng sinh đi sanh tử luân hồi. Ngài còn bảo: Đây là kiếp cuối cùng của Như Lai. Từ đây Như Lai không còn tái sinh nữa. Với lòng Đại Bi thương chúng sinh trầm luân trong biển sanh tử, mà Ngài đã giáo hóa trong 49 năm cốt cho chúng sinh thấy được lầm lỗi của vô minh mà lo tu hành theo con đường Chánh Giác để thoát khỏi sinh tử.

Nay là thế kỷ 20, Đức Di Lạc nối truyền Chánh Pháp giữa lúc khoa học kỹ thuật của Tây Phương phát triển cực thịnh, Ngài đã ghi lại sự tái sinh của chúng sinh để cho thế gian biết lo lắng cho kiếp sống sinh tử mà cố tinh tấn tu hành:
“
–"Khi con người hấp hối, thì tiềm thức (hồn khôn) đã có một phần nào xuống hoặc lên ở một cõi nào rồi, còn phần xác đang nằm trên giường bệnh hấp hối. Tiềm thức nó lần lượt xuất, lúc trong thân con người xuất, nó không khác nào hơi khói trong thân bốc lên cứ tuần tự bốc lên mãi đến khi hết cả đầy đủ tiềm thức thì Vía Dại gọi là cặn bả nghiệp thức nó nhập xuống dưới chân giường, con người liền tắt hơi, cặn bã nghiệp thức họ thường gọi là: HỒN THƯ. Đối với con người lúc sanh tiền đang còn sống nó có KHÔN và DẠI nên mới có Hồn Khôn, Vía Dại. Cái Vía Dại này nó rất ảnh hưởng đối với con người, thoát sanh mau chậm hay còn ái nịch luyến tiếc bà con giòng họ của cải nhiều ít đều do nó lôi cuốn cả.

Khi tiềm thức bốc lên hư không, Tiềm Thức là một Chất Thanh, còn HỒN THƯ gọi là Vía Dại là Chất Thô, chất Thanh đang còn tập nhiễm nhiều ít chất Thô nên chi Tiềm Thức đã bốc lên hư không, nhưng vì tập nhiễm thành thử chưa dứt khoát về cõi đã sẵn mà thoát sanh hoàn mỹ. Nếu gặp đặng Thiền sư vị này chỉ nhìn vào xác chết đương nhiên hai bên không còn vướng vấp nhau nữa. Bằng gặp đặng bậc Đại Đức (Tôn Giả) lấy công đức nơi mình chú nguyện tự nhiên cũng đặng như trên.

Nên nhớ khi trong nhà tang chủ có người chết không còn có âm khí buồn lạnh đó là cuộc thoát sanh hoàn mỹ, nếu còn âm khí u buồn thì vẫn còn vong linh Tiềm Thức lai vãng, phải chú nguyện đặng thoát sanh.

Các ông cũng nên biết Tiềm Thức thanh chất nó có đặc tánh di chuyển đến nơi chánh báo hoặc chịu báo để kết nạp với Tiểu Ngã nơi cõi hoặc cảnh giới đó, còn HỒN THƯ VÍA DẠI nó nằm yên với Tiểu Ngã đã để lại kết nạp an trụ đứng yên. Cũng như con người đang ở cõi NHÂN được sanh lên cõi Trời. Còn HỒN THƯ VÍA DẠI, nó ở lại CÕI NHÂN kết nạp với TIỂU NGÃ nhân pháp mà an trú. Chờ chừng nào bậc kia đoạt Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, gọi là ĐẠI NGÃ BÁT ĐẠI thì chung gồm bá thiên vạn ức tiểu ngã thảy đặng trở về kết chung với BÁT ĐẠI gọi là Hoàn Mỹ, hoặc Chân Thiện Mỹ Hoàn Lai cũng thế.

Đối với con người tốt, hiền lành Đạo Đức đồng với Quảng Đ
ại Quang Minh, dù cho di chuyển bằng cách nào đi nữa, đến 49 ngày vẫn được thoát sanh, trừ trường hợp ái nịch quá trớn, vong linh lai vãng quá nhiều thì bị sanh lộn kiếp ở trong gia đình. Như bà nội thương cháu nhiều không nở thoát sanh, lưu trú vãng lai thời bà nội lại đầu thai làm em của cháu nội hay làm con của con mình, trường hợp này rất nhiều do ái nịch bị sanh lộn kiếp.”" –T.V.

Năm nay tính theo Phật Lịch đã là năm 2539 ai còn nghiên cứu, học hỏi cho rằng con người chết là hết đã hoàn toàn lầm lẫn. Con chó nó thấy con người sống lâu hơn nó, nó tưởng rằng con người không chết. Con người nghe nói ông Thần sống lâu con người cũng tưởng ông Thần không chết. Con người nghe nói ông Tiên sống lâu, con người cũng lầm, tưởng rằng ông Tiên không chết. Ông Tiên thấy ông Phật Bích Chi hay A LA Hán sống lâu, ông Tiên cũng lầm tưởng ông Phật không chết.

Tất cả có tuổi thọ ngắn, dài khác nhau đều chết. Cho nên con người tưởng rằng về cõi Trời sống đời đời không chết là một lầm lẫn. Có cõi Trời sống đến hai ngàn (2000) tuổi một kiếp là cao. Không ai sống đời đời cả. Trừ bậc Vô Thượng Đẵng Chánh Giác tức Như Lai - Phật - Thượng Đế mới không còn sanh tử nữa mà thôi. Bậc Thánh được về cõi Trời sống được khoảng hai ngàn (2000) tuổi cũng phải chết lai trần tu hành tiếp, có Cõi Trời sống lâu hơn mười ngàn (10.000) tuổi một kiếp.

• Người Thiện Căn Chết Thoát Sinh Như Thế Nào?

Khi con người lúc còn sống tạo tánh tình hiền lành, hay giúp đỡ người khác không cầu lợi, người này tạo được phước, tuy họ chưa ý thức tu hành, họ không theo tôn giáo nào cả, chỉ hiếu thảo, thờ cúng ông bà, thương yêu cha mẹ lúc lâm chung, người này tùy giai cấp, tùy phước đức đã tạo nhiều ít từ trước, họ gặp duyên lành đặng thoát sanh vào nơi phước báo tốt đẹp, sống an nhàn.

Còn có những người lúc còn sống tánh tốt, hay giúp đỡ mọi người, thường đi chùa lễ Phật hay đi nhà thờ cầu kinh, hiếu thảo cha mẹ, ông bà. Những người này lúc lâm chung tùy phước đức đã tạo, gặp được duyên lành đặng thoát sinh vào nơi cao qúy, nơi này có chùa hoặc nhà thờ khi lớn lên đến tuổi bỗng thích đi chùa hoặc nhà thờ như đã hành động ở kiếp quá khứ.

Còn người tu sửa tánh xấu, bỏ đố tật xấu, thường hỷ xả, gặp hoàn cảnh khó lo hóa giải, lúc lâm chung được đại duyên lành đặng thoát sinh nơi cao qúy, làm con nhà qúy tộc, được gặp bậc Thiện Trí Thức dạy tu tự tánh tỏ tánh, sống được an lạc.

• Người
Ác Căn Chết Thoát Sinh Như Thế Nào?

“Khi con người lúc còn sống tánh ác nghiệt bị sanh chịu cơ cực hình không kể hết nổi. Nếu là người dân thường thì tội cá nhân chỉ lãnh một kiếp. Còn đối với vua, lãnh tụ, quan quyền một khi đã ác nghiệt phê chỉ làm cho hàng triệu con người phải lầm than đói khổ, làm cho người dân bỏ quê cha đất tổ chạy, gây bao cảnh đau thương mới nên tội A Tỳ Địa Ngục. Vì lẽ ấy mà bậc Minh Vương bậc Vĩ Đại cứu tinh mỗi lần phê chỉ ban hành thảy đều xem xét kỹ càng ích nước lợi dân mới dám phê chỉ.”
–T.V.

Ban hành điều ác nghiệt sau lúc lâm chung đang nằm trong phủ Chủ Thủ, dù có đông đủ các cận thần hầu hạ chăng, lãnh tụ cũng bị những người dân chết oan, chết đau khổ họ cầm gươm, đao đến đâm chém, tiềm thức (hồn oan) lãnh tụ vẫn nghe la ó, hò hét, sợ hãi, miệng lẩm bẩm nói sảng vội vàng chạy trốn, dân chúng chết trong đau khổ đuổi theo hạch tội, xiềng xích lãnh tụ, mang về nhốt vào ngục tối A Tỳ Vô Gián.

A Tỳ Vô Gián là cõi cuộc sống bị áp đặt quá khắc nghiệt, ăn, uống, sinh hoạt luôn có sự giành giựt, không tôn trọng lẽ phải, nơi này không có chùa, đình, miếu, nên ai mạnh người đó được no, luật pháp không được áp dụng, chỉ có luật riêng của mỗi cá nhân là mạnh. Đặc biệt không hề biết gì nhân quyền chớ chẳng phải không có nhân quyền.

Nơi A Tỳ Địa Ngục con người luôn sống trong cảnh rùng rợn của sự tra tấn dã man, nhiều cảnh tra khảo hỏi tội còn khủng khiếp hơn nữa, không bao giờ kể hết những tội mà lãnh tụ và các tham quan hà lạm, hoặc lừa dối dân.

Nói đến cái chết ai nghe qua cũng sợ vì đối với con người sống lo âu, chết sợ sệt là lẽ thường. Còn đối với kẻ bảo chết là hết nên ở thế gian thường liều không sợ gì cả. Con người chết xuống cõi âm hay đến cảnh giới nào họ không bao giờ nhớ họ từ đâu tới. Họ vẫn tưởng ở cõi âm hoặc cảnh giới nó đang ở. Họ quên hẳn họ từ thế gian đến, họ sống tâm trạng như người khách, không hề nhớ ở thế gian mình có vợ, chồng, con cái, thủ lãnh... họ cũng không nhớ nhà cửa, của cải chi cả. Nó cứ đi lang thang mãi. Đến một lúc có một màng bao phủ chụp vào người nó, nó bất tỉnh đó là nó được vào thai.

“Đối với thế gian này cũng như thế, nếu có người nào ở cõi Thiên hay Cõi Âm hoặc Cõi Thần đến lúc mãn phần về Cõi Nhân, họ cũng ngỡ rằng mình ở nhân thế, họ vẫn đi rông đến khi nhập thai bị sanh họ thảy đều quên bản thân của họ ở đâu đến đây, đó chính là một cuộc thay đổi từng nơi này, đến cảnh nọ để mà sanh tử.” –T.V.

Muốn biết con người khi chết sanh về đâu, chỉ quan sát lúc còn sống từ hành động đến lời nói gây phước điền hay gieo ác căn làm nhiều người đau khổ. Căn cứ vào đó mới xác định đúng đắn họ chết sẽ sanh về đâu rất thực tế không phải do ảo tưởng hay dối trá được.

“Không khác nào với bậc dược sĩ pha các chất chế tạo từng món thuốc, chất gì pha với chất chi được gọi là môn thuốc để trị nhất định mỗi bệnh. Khi con người chết được sanh hay chịu sanh nó cũng tùy theo phẩm dược, tùy nơi chất phẩm đắng cay ngọt bùi nơi nó, lúc còn sống tạo thành mà vào cõi hay các cảnh giới đồng hợp với nó, nó liền hóa sanh nơi cõi ấy hoặc cảnh giới ấy sướng khổ tùy theo được sanh hoặc chịu sanh cũng thế.

Theo thói thường con người, lúc lâm bệnh nó có hai trường hợp đem con người thoát sanh, trường hợp thứ nhất con người bị đau NỘI THƯƠNG thuộc về đau THÂN XÁC, trường hợp thứ hai đau về THƯƠNG HÀN cảm nặng thuộc về TRÍ GIÁC. Hai trường hợp này thường hay bị con người lý đoán về cái chết nơi con người.


Lúc bị đau về THƯƠNG HÀN mê man bất tỉnh, miệng nói lẩm bẩm, sau khi chết, họ cho là người này chết sẽ bị tội chịu sanh khổ sở. Còn có người đau về thân mạng Nội Thương, lúc chết tỉnh táo, nói năng tỏ rõ, họ cho sẽ đặng lên Thiên Đàng hay cõi Trời. Hai lý đoán như thế không thật thảy đều sai chạy.


Nếu con người tự nhận biết được tỏ rõ, sau khi chết sẽ về đâu, thời nên biết lúc còn sống tạo cho đặng PHƯỚC ĐIỀN, tạo cho đặng ĐỨC TÁNH cùng nung đúc tấm lòng nhân đạo chính mình biết thương nơi khổ cực của mọi người, cũng như thương thân mạng mình, chính mình nên đem lời an ủi giúp đỡ cho những người chung quanh mình đã từng bị khổ, làm cho họ đặng an vui ví như mình an vui. Con người cứ làm như thế thời con người ấy sau khi tuổi già có lâm vào tình trạng mắc bệnh THẦN KINH, lúc lâm chung cũng thoát sanh lên cõi Thần hay cõi Thiên. Tâm trí họ liền sáng suốt, còn chứng thần kinh kia nó liền trả lại cho con bệnh thần kinh, chớ không vướng mắc gì đến Chánh Báo thân mạng, đó chính là lời chân thật vậy.


Con người đang ở hiện tại rất cần xây dựng đứng thứ nhất. Bậc đã tạo đặng cơ bản, bản năng làm con người chân chất cao đẹp, dù cho sau này chết bằng cách gì đi nữa cũng đặng Chánh Báo khang trang chớ không bao giờ bị sa địa ngục, ngạ qủy, súc sanh đâu mà sợ, làm con người hiếm người biết xét lại công việc mình đã làm thất đức, hiếm bậc gặp trường hợp họ gây tạo ác nghiệt đến nơi mình mà chính mình tha thứ cho họ.”
–T.V.

Vui mình hưởng mình phải lo cái khổ của người dân, khi họ than phiền kêu la, mình phải xét lại hành động thiện hay ác mà dân phải kêu la. Người dân vô tội không đứng bên này hay bên kia bị khổ sao gọi là anh hùng trưởng thượng được. Con người ở trong giới không bao giờ thấy cái sai của giới mình hết được. Ngoài giới mới thấy. Do như vậy ở trong giới thấy sai, sửa sai liền có cái sai khác. Nếu có lớp người ngoài giới họ chỉ cái sai, cùng nhau sửa sai, đi đến chung cuộc tốt đẹp để cho dân khỏi than phiền trách móc. Đó mới là chân lý. Như các nước Tây Phương tiến bộ nhanh chóng, dân ấm no là nhờ vậy.

Bậc trưởng thượng về mặt tín ngưỡng không phân biệt tôn giáo nào, nếu tôn giáo nào dạy con người tín tâm biết làm điều thiện, biết kiên nhẫn, có lòng thương người mình nên để yên, không nên buộc phải làm như thế này, phải làm như thế nọ. Bậc trưởng thượng cai trị dân như thế này khi lâm chung sẽ được Phước Báo Nhân Thiên.

Người cho đàn cháu sát sanh thân mạng, lúc lâm chung thường bị loài mình giết đến đòi mạng, nếu không tin có Thần Thánh, giết bậc tu có đức độ cao hậu qủa ở địa ngục nhiều đời kiếp khổ sở không kể xiết. Đoạn kinh sau đây do Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di lạc ghi lại:

“Ta đã từng nhập vào chánh định, đã từng gặp các Chư Thần ở cõi Trời hay cứu giúp nhân gian, từ Thần Hoàng đến Thần Miếu qua Thần Thánh lại Thánh Quân cùng Thánh Mẫu thảy đều phàn nàn phiền trách với Ta rằng: Kính thưa Thiền Sư. Chúng tôi toàn Chánh Trực Quang Minh Thần. Chúng tôi không thiếu chi món ẩm thực hương vị ngạt ngào cao qúy, thanh thoát thơm tho. Chúng tôi thấy dương gian gây tạo ác nghiệp nên có ác căn tai nạn xảy đến cho họ liên miên. Họ lại có lòng thờ phụng cung kính van cầu chúng tôi, chúng tôi động lòng ra tay cứu độ cho họ thoát khỏi tai ách.

Mỗi lần chúng tôi giáng trần, đến nơi đình miếu thì hỡi ơi! Trước mặt chúng tôi họ đặt rất nhiều xác chết, thiêu đốt luộc quay. Chúng tôi làm sao nói đặng? Đứng nơi lòng thành hòa lẫn ác nghiệp, buộc lòng chúng tôi cứu nạn với lòng thành. Con người họ vì tục lệ, họ vì ưa thích nên họ tưởng chúng tôi ưa thích gà vịt, heo quay, bò tái, rượu nếp, canh xôi thật ra chẳng biết nói sao hơn, việc đó chưa phải tín chủ mà bọn tế lễ tham ăn dục lợi, khiến con người phải làm như thế. Chúng tôi mong Thiền Sư đương thời Hạ Lai này, nói lên lời nói giúp chúng tôi khỏi phải mang tiếng tế thần bằng lối sát sanh như vậy, thưa gởi xong liền chầu Trời.”
–T.V.

Còn bậc Thánh dù bị đánh đập, bị hành hạ trong lúc lâm nạn không hờn giận kẻ đối phương, dù thoát sinh bằng lối xác thân khổ đau vẫn được đầy đủ chánh báo về với Như Lai. Tỷ như kẻ vua quan đóng đinh Chúa Jésus trên cây, sau phải bị mất nước, rời bỏ quê hương, bị đọa đầy. Đó chẳng phải là tấm gương để cho bậc lãnh đạo và con cháu làm bài học nhớ đời đó sao!

Khi còn đang cải tạo ở Đá Bàn năm 1976, lúc đang lao động, tôi gặp ông Thần Núi Đá Bàn đến muốn giúp đỡ. Tôi trả lời không cần và để xem sức tôi chịu gian khổ tới mức nào. Đến khi chuyển trại ở A.30 Tuy Hòa tôi cũng thường gặp Thần Núi khác đến vấn an nhưng tôi cũng không cần nhờ giúp. Người Vô Hình, Thần, Long Thần thân họ kết bằng mây, y như khói kết lại thành thân ăn mặc giống như hồi còn sống ở thế gian. Nhìn rất rõ ràng. Con người chết tánh xấu thành ma, tánh độc thành qủy, thân họ cũng kết bằng khói như mây. Khi đi dáng giống như con cá bị thương đang bơi lờ đờ.

Thấy lúc đang thức chứ không phải Thiền hay nằm mơ. Chỉ con mắt Thiền Sư mới thấy rõ ràng như tiếp xúc với người thường ở thế gian. Còn chúng sanh không thấy do tánh nóng, buồn khổ... làm ngăn che. Con mắt nhục nhãn của nhân sinh cũng không thấy được.

Chư Thần thường vị nào thân hình cũng vạm vỡ như người Phương Tây, nước da ngâm đen, có lòng thương người, nếu có người tin, xin vẫn thường được Thần giúp đỡ rất kết quả. Có một lần ở gần cầu Bình Sơn trong khu cải tạo A. 30 ở Tuy Hòa, ông thíêu tá công an trưởng trại cho xe ủi đất sang bằng một cái miếu Thần có từ lâu đời. Khi đi lao động ngang qua tôi thấy ông Thần Miếu ra chào tôi và phàn nàn, chỗ ở bị dẹp bỏ nay phải vào chân núi ở trong bụi cây.

Tôi trả lời: Thân tôi còn bị hành xác đây ông không thấy sao? Thôi hãy kiên nhẫn tu hành sau này đắc đạo Chánh Đẳng Thần qúy hơn. Thần Miếu hài lòng, sau này mỗi khi vào rừng làm củi ở vùng này tôi thường gặp ông đến dắt người đem cho tôi thức ăn. Vì chỉ tiêu của trại cải tạo mỗi tháng 6 kg gạo và thêm ít khoai mì sống, ăn ngày nào cũng đói, có lúc xỉu là thường.

Lúc đi cải tạo ở A.30, nhiều tháng liền tôi không được gia đình “thăm nuôi” vì nhà túng thiếu, một hôm lao động chặt 1,50 m3 củi chỉ tiêu trong ngày vừa xong, tôi đang ngồi nghỉ mệt, Thần Núi đến chỉ cho tôi một cây trầm, tôi hạ cây một hai anh em trong tổ lén đổi trầm lấy gạo sống qua ngày được gần cả tháng.

Vào năm 1988, từ Sàigòn tôi đi dự ngày Đại lễ Đản Sinh mồng 8 tháng 4 âm lịch ở Trung Ương Hội Thượng tại Nha Trang, lưu trú tại khách sạn 50 đường Nguyễn Hữu Huân cạnh bến xe đò liên tỉnh Khánh Hòa, tôi ở lầu hai tầng cao nhất của khách sạn, lúc 10 giờ sáng tôi thấy ông Thần to lớn đến độ tôi phải ngạc nhiên. Ông đứng dưới đất, đến lầu hai mới có nữa người còn nữa thân trên cao vòi vọi. Nói chuyện với tôi mà Thần phải cúi khom lưng rất khó nhọc mới ngang bằng phòng tôi ngồi, bàn chân ông rộng 1mét dài hơn 2 mét. Từ khách sạn 50 đến chợ Đầm Nha Trang hơn 2 km ông chỉ cần 4 bước đi là tới nơi. Ông hỏi thăm tôi sau khi đại lễ và về Trời.

• Cách Thức Đi Đầu Thai Của Người Chết

“Các ông cũng nên biết: Khi bậc đã có phước điền, có một đức tin làm lành thời có nơi chốn chứng minh, có vị Thánh đỡ đầu. Lúc lâm chung, tiềm thức bay bổng lên hư không, miệng liền niệm danh hiệu tôn giáo Đức tin của mình như: Kính lạy Chúa, hay kính mong Thần hoặc kính gặp Thánh tùy tùy mỗi con người tin mà phát niệm, liền khi đó có tia sáng Hồng Quang về cõi Thần, có tia sáng Thanh Quang về cõi Trời làm dân, có tia sáng Bạch Quang về cõi Trời làm Quan, có tia Huỳnh Quang về Tịnh Độ.

Có lúc con người thật tốt nhưng chưa đặng Đức tin vững, vừa lên đến hư không, vui mừng đi dạo khắp vũ trụ, nhưng không bao giờ thấy đặng các cõi, các cảnh giới, đến sau tâm thần bớt khoan khoái lờ đờ, khi tĩnh lúc mơ, nhớ đâu gặp đó, liền đến Thần Hoàng Miếu Võ mà ở liền trở thành Thần Núi Nhân Gian, hoặc gặp phải Tia Sáng Đủ Màu liền được về nhân thế mà thai sanh con nhà giàu có để tu hành.


Trái lại có bậc thật tốt nhưng quá chơi bời, đình trà tửu điếm. Lúc sanh tiền bạn bè thân hữu nhiều nơi, thường vui chung cùng chúng bạn. Đến giai đoạn trên dạo chơi khắp nơi, liền đến chốn ca xướng ăn chơi nhảy múa, liền nhập bọn ở nơi đó say mê lâu ngày vẫn bị tấm màn bao phủ thụ thai vào súc sanh giới. Nếu lối chơi thanh bai qúy phái mà có công đức cao dầy thanh thoát thì đặng thụ thai Cõi Trời Lục Dục Thiên an hưởng.”
–T.V.

Đoạn kinh Đức Tịnh Vương đã ghi chép để lại cho thế kỷ 20 của chúng ta, chứng minh con người không phải chết là hết, mà còn trả nợ ở hành động, lời nói ở thế gian, sau đó nhập thai tùy xứ sở do mình gây tạo ra. Bậc tu có dày công đức rất thương chúng sinh lầm mê, không bao giờ có ý nghĩ hay hành động tổn thương đến chúng sinh bao giờ. Con người có quyền không tin tôn giáo, không tin bậc tu nhưng nếu chúng sinh cố ý va chạm, cố ý hại thì hậu quả nhiều đời kiếp không lường hết nổi, bị cảnh thảm sầu trong hiện tại và mãi mãi tương lai ở Địa ngục. Đây là hai sự kiện ở Nha Trang.

Ông Cũng làm an ninh Phường Tân Lập thành phố Nha Trang, không ưa Ngài Tịnh Vương, lập hồ sơ ghi tội bắt Ngài, lúc đó tôi còn ở trong trại cải tạo A.30. Đức độ như biển cả và chúng sinh không phước điền va chạm nhau, thình lình ông Cũng đang công tác bị tai nạn rất nặng ở cột sống nay phải nằm một chỗ không ngồi, không đi lại được như ngày trước nữa. Thật là tai họa. Hết phước ở thế gian, địa ngục môn chờ!

Ông cháu lên thay. Vào năm 1980 lúc tôi đi cải tạo về, ông cháu gọi tôi lên phường Tân Lập bảo làm tờ trình việc nhà và việc tu hành. Tôi biết ông muốn lấy cớ để bắt Đức Tịnh Vương.

Tôi nói: Chuyện đã qua rồi bây giờ ai cũng đang sống ổn định, khơi dậy không ai được ích lợi gì cả. Biết tôi từ chối, ông Cháu bảo, anh làm tờ trình tôi sẽ lo cho anh mua gạo 5 cha con theo gía nhà nước là 5 hào một kg. Thời buổi này, nhà nào cũng chạy gạo toát mồ hôi mới đủ ăn từng ngày. Trong gia đình người nào cũng phải lao động vất vả mới đủ gạo cho cá nhân. Một người chỉ làm nuôi nổi một người chớ không đủ sức nuôi hai, ba người. Tôi cũng nằm trong số kiếm ăn vất vả, nhà lúc nào cũng túng thiếu. Ngày nào nghĩ làm ngày đó không có gạo nấu. Tôi vẫn không có chút mừng khi nghe cho mua gạo với giá rẻ. Tôi biết đây là một thử thách, nếu tôi không trí sẽ mất hết công đức trong vô lượng kiếp đã gieo trồng vì bậc tu cầu giác ngộ chúng sanh không sao hiểu thấu. Cô thư ký Phường bảo có học mà ngu quá, có người bảo tôi khùng theo tu ông Thầy Tịnh Vương. Tôi vẫn làm thinh ra về.

Lúc này ông cháu đang tiến hành lập hồ sơ bắt Ngài bằng lối khác. Thình lình ông bị bệnh sơ gan cổ trướng phải nằm bệnh viện. Bệnh này thường hai năm hơn mới chết nhưng ông cháu chỉ hơn 20 ngày đã chết. Người dân ở chợ Mới Nha Trang đồn ông Cháu chết trông ghê lắm, thấy bu đông sau nhà ông tôi cũng vào xem. Bụng ông to, miệng hả rộng, mắt mở trông rất dữ. Ông bị thọ báo địa ngục môn rất rõ không sai chạy.

Sau đó chính quyền địa phương đến bảo gia đình ông Cháu dẹp bàn thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, thay vào đó là hình ông Hồ Chí Minh được đặt lên và Đảng Cộng Sản địa phương đứng ra chôn cất thi hài ông cùng ban đặc ân. Nhà ông đã thi hành theo ý Đảng.

Trường hợp này chắc chắn ông đã thọ báo địa ngục môn không có ngày ra. Thời mạt kiếp có lớp lớp bậc tu, không tu bị kẹt không. Họ không tin có sanh tử luân hồi, không tin có Thần, Thánh, Trời, Phật. Họ bảo chết là hết vì họ không tu Thiền hoặc tu chưa đến nơi chốn kết quả quyết định. Cha mẹ, ông bà, thân nhân đối với họ chết là hết. Trong rằm tháng bảy hàng năm Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di lạc đã từng làm lễ siêu độ cho thân nhân quá vãng của chân tử Ngài, khi xướng tên nếu chưa đi đầu thai họ đã gặp Hộ Pháp dắt về dự Đại lễ làm kinh ngạc một số chân tử hiện tiền./-